Đồng chí Nguyễn Duy Trinh – Từ người cộng sản kiên trung đến nhà

Năm 1927, đồng chí tham gia phong trào học sinh yêu nước tại thị xã Vinh. Năm 1928, đồng chí Nguyễn Duy Trinh gia nhập Đảng Tân Việt – một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuối tháng 11/1928, trong lúc đang hoạt động cho Đảng Tân Việt tại Đakao, Sài Gòn (nay thuộc Quận 1, TPHCM) bị rơi vào tay giặc. Vì chưa đủ 18 tuổi nên bị địch kết án 18 tháng tù, nhốt vào khám vị thành niên. Ở tù đến tháng thứ 8, đồng chí bị trục xuất về nguyên quán.

Năm 1930, đồng chí tham gia vào Đảng Cộng sản Dông Dương và tiếp tục hăng hái tham gia hoạt động cách mạng. Từ tháng 5/1930 đến tháng 5/1931, cao trào Xô Viết phát triển mạnh tại huyện Nghi Lộc, thực dân Pháp tăng cường bắt bớ, truy lùng, hàng trăm chiến sĩ yêu nước bị giết hại, hàng chục ngôi làng bị triệt phá. Ngày 13/9/1931, cơ quan Huyện ủy Nghi Lộc bị bao vây, một số cán bộ Xứ ủy, Huyện ủy bị địch bắt, các tổ chức Đảng bị tổn thất nặng nề. Trước tình thế đó, Nguyễn Duy Trinh chủ động móc nối với một số đồng chí may mắn thoát khỏi khủng bố. Sau khi chủ trì lập ra Ban cán sự của Huyện ủy để khôi phục phát triển phong trào tại Nghi Lộc từ trong máu lửa, đồng chí được bầu làm Bí thư Huyện ủy Nghi Lộc, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng tại quê nhà, nhưng khi phong trào vừa nhóm lên thì thực dân Pháp tiếp tục khủng bố. Cuối năm 1931, đồng chí Nguyễn Duy Trinh bị địch bắt.

Đầu năm 1932, đồng chí bị tòa án thực dân Pháp và phong kiến kết án 13 năm tù khổ sai và lần lượt bị đày đi nhiều nhà tù khét tiếng của chủ nghĩa thực dân, như: Nhà lao Vinh, Buôn Mê Thuột, Ngục Kon Tum, Nhà tù Côn Đảo. Nêu cao khí tiết của người cộng sản, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã coi nhà tù thực dân là trận tuyến mới, đồng chí đã tập hợp bạn tù đấu tranh để giảm bớt chế độ hà khắc của lao tù. Đặc biệt, năm 1941 vì bị cho là phần tử nguy hiểm nên chính quyền thực dân đã tiếp tục đày đồng chí đến ngục Kon Tum.

Tháng 5/1945, đồng chí Nguyễn Duy Trinh ra tù, tham gia vận động khởi nghĩa ở Vinh và ở Huế.

Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, từ lúc hình thành, gây dựng phong trào cách mạng, cũng như khi bị tù đày tại các lao tù của thực dân, đồng chí Nguyễn Duy Trinh luôn kiên định với mục tiêu, lý tưởng, nêu cao ý chí và tinh thần tiến công cách mạng. Đồng chí đã chiến đấu và hoạt động với tất cả nhiệt tình và trí tuệ của mình để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Đồng chí được Đảng phân công làm Thường vụ Xứ ủy Trung Bộ kiêm chức Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Trung Bộ.

Trước khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ năm 1946, đồng chí được phân công làm Bí thư Khu ủy Liên khu V kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính miền Nam Trung Bộ… Thời gian công tác tại Nam Trung Bộ, đồng chí Nguyễn Duy Trinh luôn bám sát thực tiễn phong trào kháng chiến, tích cực xây dựng căn cứ địa, vùng tự do cách mạng ở Nam Trung Bộ. Đặc biệt là trên cương vị Bí thư Liên Khu ủy V, đồng chí đã có nhiều đóng góp trong công tác xây dựng Đảng nói chung và xây dựng Đảng bộ Liên Khu V; trực tiếp lãnh đạo phong trào kháng chiến ở Liên khu V phát triển mạnh mẽ.

Tại Đại hội lần thứ II của Đảng (tháng 3/1951), Nguyễn Duy Trinh vinh dự được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, là một trong số 19 ủy viên chính thức. Phát huy những kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo trong quá trình công tác tại Nam Trung Bộ, đồng chí tiếp tục có những đóng góp quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, năm 1955, đồng chí Nguyễn Duy Trinh được bầu vào Ban Bí thư; năm 1956 đồng chí được bầu là Ủy viên Bộ Chính trị. Tại kỳ họp lần thứ 8, Quốc hội khóa I (thánng 4/1958), đồng chí Nguyễn Duy Trinh được cử làm Bộ trưởng Phủ Thủ tướng. Đến kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa I (thánng 12/1958), đồng chí được phân công làm Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước.

Dù ở cương vị nào, đồng chí cũng cho thấy những quyết sách đúng đắn, kịp thời của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị mà trong đó đồng chí là thành viên. Đặc biệt với cương vị Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Nguyễn Duy Trinh đã có nhiều bài viết, báo cáo thể hiện rõ sự chỉ đạo toàn diện và sâu sát trong công cuộc đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Những tác phẩm của Nguyễn Duy Trinh thể hiện rõ tư duy lý luận và thực tiễn sâu sắc về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về các mối quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế quốc dân, về các nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài của miền Bắc xã hội chủ nghĩa… Nắm vững tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Nguyễn Duy Trinh rất chú trọng tới việc cổ vũ, động viên các giai tầng xã hội, nhất là công nhân, nông dân và trí thức thực hiện thắng lợi kế hoạch cải tạo, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.

Năm 1960, tại Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch nhà nước, Ủy viên Hội đồng Quốc phòng, năm 1962 kiêm thêm Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học nhà nước. Trên những cương vị công tác được phân công, đồng chí Nguyễn Duy Trinh luôn sâu sát thực tiễn, nỗ lực hết mình để đạt hiệu quả công việc cao nhất, có nhiều đóng góp quan trọng vào chiến lược, sách lược về phát triển kinh tế và cải tạo xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học cho sát với từng vùng, miền, từng thời điểm cách mạng, vì thế đã động viên được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân không ngừng phấn đấu vì sự nghiệp xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.

Tháng 4/1965, trước yêu cầu mới của cách mạng, đồng chí Nguyễn Duy Trinh được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị phân công giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và giữ nhiệm vụ này đến tháng 5/1980.

Với cương vị là Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đồng chí Nguyễn Duy Trinh phụ trách toàn bộ mặt trận ngoại giao bao gồm đối ngoại của Đảng, ngoại giao của Nhà nước và ngoại giao nhân dân. Đồng chí đã tích cực tham gia xây dựng, hoàn thiện đường lối, chủ trương đối ngoại của Đảng và chính sách ngoại giao của Nhà nước nhằm đoàn kết, tập hợp lực lượng quốc tế giúp đỡ, ủng hộ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Đồng chí đã tham mưu nội dung, chương trình các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc cao cấp của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; đồng thời đã trực tiếp tiếp xúc, gặp gỡ nhiều nước và các tổ chức tiến bộ trên thế giới để đàm phán, ký kết nguồn viện trợ và thông qua các tổ chức đoàn kết với Việt Nam, kêu gọi nhân dân các nước trên thế giới ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đồng chí đã để lại những dấu ấn trên trường Quốc tế về một nhà ngoại giao sâu sắc với mục đích cao nhất là hòa bình, quyền và lợi ích chính đáng của Tổ quốc, của nhân dân Việt Nam.

Đóng góp lớn nhất của Đồng chí Nguyễn Duy Trinh cho cách mạng trên cương vị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao là thành công của quá trình đàm phán Paris giữa Mỹ và Việt Nam. Đồng chí Nguyễn Duy Trinh là người trực tiếp đề xuất nhiều chủ trương, bước đi lớn trong đấu tranh ngoại giao. Tất cả các đề án đấu tranh ngoại giao trong giai đoạn 1967 – 1973 đều có dấu ấn của đồng chí Nguyễn Duy Trinh. Ở những thời điểm có tính bước ngoặt như khi Mỹ leo thang ném bom, bắn phá miền Bắc, hay sau sự kiện tết Mậu Thân, hay khi Mỹ phải chấp nhận đi vào đàm phán thực chất từ năm 1972, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đều chỉ đạo kịp thời Bộ Ngoại giao xây dựng các đề án, các chủ trương đấu tranh ngoại giao, kịp thời trình Bộ Chính trị xin ý kiến chỉ đạo và triển khai hiệu quả.

Đơn cử như sự kiện vào tháng 1/1967, Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) đề ra chủ trương mở mặt trận đấu tranh ngoại giao vận dụng sách lược “vừa đánh vừa đàm, vừa đàm vừa đánh” để cùng các mặt trận quân sự và chính trị tạo thế và lực mới cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc thắng lợi. Người dân cả nước đã nức lòng khi người đứng đầu Bộ Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nguyễn Duy Trinh ra Tuyên bố ngày 28/1/1967, nêu rõ: Chỉ sau khi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và các hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ mới có thể nói chuyện. Tuyên bố này là một đòn tấn công ngoại giao lớn, nhằm làm thất bại hẳn luận điệu “đàm phán không điều kiện” mà Mỹ từng đưa ra suốt hai năm trước đó để làm bình phong leo thang chiến tranh, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán.

Ngoài ra, đồng chí còn đặc biệt xuất sắc trong việc sử dụng mặt trận báo chí, tuyên truyền đối ngoại để phục vụ các mục tiêu cách mạng. Trong suốt thời gian diễn ra đấu tranh ngoại giao tại Paris, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã có hàng trăm bài nói chuyện, trả lời phỏng vấn báo chí trong nước và quốc tế để triển khai các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta, để chuyển thông điệp tới các bên…

Các vòng đàm phán tại Hội nghị Paris từ tháng 5/1968 đến tháng 1/1973 là cuộc đấu trí giữa một siêu cường với nền ngoại giao nhà nghề với nền ngoại giao của một Nhà nước cách mạng còn non trẻ. Sau gần 5 năm đấu trí với hơn 200 phiên họp công khai, 45 cuộc họp riêng cấp cao, 500 cuộc họp báo, 1.000 cuộc phỏng vấn, cuộc đàm phán 4 bên kết thúc bằng việc ký kết chính thức Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam ngày 27/1/1973. Hiệp định Paris là chiến thắng của một nền ngoại giao cách mạng, buộc Mỹ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, tạo ra thế và lực mới cho cách mạng nước ta, tiến tới Đại thắng năm 1975.

Quá trình đàm phán ở Paris và Hiệp định Paris là chiến thắng của một nền ngoại giao non trẻ, nhưng đầy chính nghĩa và mưu lược của cách mạng Việt Nam, ghi đậm dấu ấn của nhà ngoại giao Nguyễn Duy Trinh.

Sau khi đất nước thống nhất, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh đề nghị Bộ Chính trị mở rộng quan hệ láng giềng với các nước trong khu vực. Tháng 12/1976, Đại hội Đảng lần thứ IV tiếp tục bầu đồng chí Nguyễn Duy Trinh vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và vào Ban Bí thư Trung ương, tiếp tục giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao cho đến năm 1980. Năm 1982, tại Đại hội lần thứ V của Đảng, ông tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương. Dù được giao nhiệm vụ gì, ở vị trí công tác nào đồng chí vẫn giữ đức tính cần kiệm, giản dị, hòa đồng, yêu mến nhân dân.

Bước ra từ cuộc chiến với nhiều vết thương trên tất cả các lĩnh vực, ngành ngoại giao Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Duy Trinh, dù phải đối mặt với hàng vạn khó khăn, Việt Nam cũng đã gặt hái được nhiều thành tựu trên mặt trận ngoại giao. Ngày 21/7/1977, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã thay mặt Đảng và Nhà nước ta tham gia Lễ Thượng cờ tại Trụ sở Liên hiệp quốc và cũng chính đồng chí đã kiến tạo các chuyến thăm của lãnh đạo nước ta với các nước trong khu vực để Việt Nam trở thành thành viên của ASEAN.

Đặc biệt là sự kiện chính thức trở thành thành viên của Liên hiệp quốc (20/9/1977), đánh dấu việc cộng đồng thế giới công nhận tính pháp lý và tư cách đại diện của Nhà nước ta tại tổ chức đa phương lớn nhất toàn cầu này.

Ngày 20/4/1985, đồng chí Nguyễn Duy Trinh từ trần tại Hà Nội trong sự tiếc thương của Đảng và hàng triệu người dân Việt Nam. Với 76 tuổi đời, 57 năm tuổi Đảng, đồng chí Nguyễn Duy Trinh thuộc lớp cán bộ tiền bối cách mạng với gần 60 năm liên tục cống hiến cho Tổ quốc. Ghi nhận những công lao, đóng góp đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Đảng, Nhà nước đã trao tặng đồng chí Huân chương Sao Vàng và nhiều phần thưởng cao quý khác. Tên đồng chí được đặt làm tên đường tại thành phố Vinh, TPHCM. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của đồng chí (15/7/2010), một ngôi trường cấp 3 của huyện Nghi Lộc được vinh dự mang tên Trường THPT Nguyễn Duy Trinh.

“Đồng chí Nguyễn Duy Trinh là một nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, người học trò trung thành và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tấm gương chiến đấu và phẩm chất cách mạng, đức tính khiêm tốn và tình thương yêu chân thành đối với đồng chí, đồng bào của Anh đã để lại cho chúng ta nhiều tình cảm tốt đẹp và sâu sắc”[1]- Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng viết về nhà ngoại giao tài ba của Đảng, Nhà nước như vậy.

Phòng Lý luận chính trị – Lịch sử Đảng

Ban Tuyên giáo Thành ủy TPHCM