Ngày ấy, đơn vị tôi có nhiệm vụ tiêu diệt bộ binh và trận địa cối 81mm của địch trên hai cây cầu số 3 và số 5 nằm trên Đường 21 (đoạn từ Nam cao điểm 519 đến Bắc căn cứ Khánh Dương). Đây là con đường giao thông huyết mạch có tính sống còn của địch từ Tây Nguyên đi các vùng duyên hải (nay là Quốc lộ 26 từ Buôn Ma Thuột đi Nha Trang). Sau khi hoàn thành nhiệm vụ diệt địch, tạo điều kiện cho đơn vị công binh liên kết các khối bộc phá cắt đứt hai cầu nói trên, nhiệm vụ tiếp theo của chúng tôi là nhanh chóng cùng các đơn vị của trung đoàn xây dựng công sự, trận địa vững chắc, đánh cắt giao thông dài ngày trên Đường 21 để quân địch không thể tiếp viện khi ta nổ súng đánh vào Buôn Ma Thuột.

Đêm 4-3-1975, toàn đơn vị đã vào vị trí tập kết. Khoảng 4 giờ 30 phút ngày 5-3, Đại đội 5 và 7 theo hiệp đồng đồng loạt nổ súng lần lượt tiêu diệt các mục tiêu quân địch trên hai cầu số 3 và số 5; trong đó có trận địa cối 81mm, đánh sập hai cây cầu theo đúng kế hoạch. Địch bị đánh bất ngờ, trở tay không kịp, sau hơn một giờ chiến đấu, quân ta đã làm chủ trận địa. Đơn vị đã tiêu diệt tại chỗ 87 tên, bắt sống 3 tên, thu 76 súng các loại, trong đó có 2 khẩu cối 81mm, 2 máy vô tuyến điện PRC25 của địch. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Đại đội 5 và 7 cơ động về vị trí, tiếp tục xây dựng công sự, ngụy trang trận địa, sẵn sàng cho trận tiếp theo.

Trong suốt ngày 5-3, địch tập trung lực lượng, dưới sự chi viện của pháo binh, không quân đánh phá ác liệt vào các trận địa của ta hòng giành lại khu vực bị ta chiếm giữ. Máy bay L-19, OV-10 của địch quần thảo liên tục thăm dò vẫn không phát hiện ra công sự, trận địa của ta.

Cựu chiến binh Vũ Khắc Minh (thứ ba, hàng đầu, từ trái sang) trong một lần gặp mặt truyền thống đơn vị. Ảnh: VƯƠNG TÂM

Đúng 7 giờ 30 phút ngày 6-3-1975, đài quan sát báo về cho tôi là có một đoàn xe GMC 37 chiếc xuất phát từ khu vực Khánh Dương, trên xe chở đầy lính đang di chuyển chậm về khu trận địa của ta. Nhận được tin đó, tôi lấy bút đánh dấu vị trí địch trên bản đồ và chỉ thị cho các mũi trinh sát tăng cường bám nắm địch, báo cáo kịp thời về sở chỉ huy tiểu đoàn. Khoảng 3 tiếng đồng hồ sau, đoàn xe cách cầu số 3 tầm 500m, địch cho quân xuống xe và đi trinh sát tại chỗ, kết hợp với máy bay L-19, OV-10 quần thảo hộ tống. Khoảng 12 giờ trưa, địch chia làm hai mũi hành quân bộ. Một mũi đi chính giữa Đường 21, mũi thứ hai đi phía Tây bám theo triền núi. Cả hai mũi đều tiến rất chậm, vừa đi vừa bắn thăm dò. Lúc 13 giờ cùng ngày, đài quan sát và mũi trinh sát thông báo: Địch đã bất ngờ xuất hiện mũi đi bộ thứ ba hướng di chuyển vào đúng vị trí chỉ huy của tiểu đoàn. Chúng đang tổ chức vượt sình lầy hướng Đông Bắc, quân số khoảng một tiểu đoàn… Tôi đã chấm vị trí chính xác đội hình quân địch mũi thứ ba (vu hồi) còn cách sở chỉ huy tiểu đoàn chúng tôi gần 1.500m.

Tại thời điểm đó, đồng chí Trung đoàn trưởng Lộ Khắc Tâm điện hỏi tôi: “Hai mũi quân địch đi ngoài đường ít di chuyển không vào đến trận địa, khóa đầu trung đoàn. Đặc biệt, địch xuất hiện mũi thứ ba vu hồi phía sau trận địa của ta đúng vào sở chỉ huy tiểu đoàn của đồng chí, vậy Đảng ủy, chỉ huy tiểu đoàn tính sao? Báo cáo gấp về sở chỉ huy trung đoàn”.

Sau khi hội ý chớp nhoáng với các cán bộ chỉ huy, tôi báo cáo ngay với đồng chí Trung đoàn trưởng: “Thế trận của tiểu đoàn giữ nguyên như cũ, chỉ khác là hướng xung phong tiêu diệt địch quay về hướng Đông, sở chỉ huy tiểu đoàn là lực lượng chặn đầu. Đại đội 7 xuất kích một trung đội tiếp ứng cho sở chỉ huy. Đại đội 5 nghe tiếng súng của lực lượng chặn đầu sẽ bật khỏi công sự vận động về hướng Đông khóa chặt đội hình phía sau quân địch. Đánh theo phương pháp vận động bao vây, tiến công liên tục buộc địch phải dồn vào trận địa mai phục của ta. Các trận địa hỏa lực điều chỉnh lại hướng bắn và cự ly bắn, tập trung chế áp quyết liệt vào khu quyết chiến tạo thuận lợi cho Đại đội 6 xung phong khi có lệnh. Tiểu đoàn 2 do tôi phụ trách quyết tâm tiêu diệt toàn bộ mũi vu hồi của địch. Hai mũi quân địch ngoài đường đề nghị hỏa lực cấp trên chế áp và đánh tan đội hình của chúng, tạo điều kiện thuận lợi cho tiểu đoàn chúng tôi tập trung tiêu diệt mũi vu hồi”.

Đồng chí Lộ Khắc Tâm vui vẻ trả lời: “Đồng ý! Tôi chờ tin thắng lợi của các đồng chí”.

Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 6-3, đội hình quân địch đã lọt sâu vào khu vực quyết chiến của ta. Địch ào ạt theo đội hình hàng ngang, đi đến đâu cắt dây thông tin liên lạc của ta đến đó và đốt cỏ tranh khói bụi mịt mù… Toàn bộ lực lượng của ta vẫn nằm im trong công sự đợi lệnh nổ súng. Địch chỉ còn cách ta chừng 30m. Các xạ thủ B40, B41 và đại liên chuẩn bị sẵn sàng, đưa đội hình quân địch vào thước ngắm. Khi địch chỉ còn cách ta 20m rồi 15m… tôi ra lệnh: “Nổ súng!”. Toàn bộ lực lượng khóa đầu đã trút “bão lửa” vào đội hình quân địch. Nghe tiếng súng hiệp đồng, Đại đội 5 vượt công sự vận động trên đoạn đường 300m vòng hậu, khóa chặt đội hình quân địch, buộc địch phải sa lầy trong khu quyết chiến của ta. Toàn bộ trận địa ầm vang tiếng súng, khói lửa mịt mù diễn ra trong 40 phút. Tôi ra lệnh các trận địa hỏa lực của đơn vị dừng bắn để Đại đội 6 và 7 xung phong đánh vào khu quyết chiến, tiêu diệt toàn bộ quân địch.

Trung tá Vũ Khắc Minh, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 25, Mặt trận Tây Nguyên. Ảnh do nhân vật cung cấp

Địch bị ta đánh bất ngờ chạy không được, lùi không xong, kêu la ầm ĩ. Ta có lợi thế giấu quân trong bãi cỏ tranh, lại tận dụng phương pháp đánh gần, địch trở tay không kịp, rất nhiều tên lao cả vào công sự của ta vứt súng đầu hàng. Đúng 15 giờ 5 phút, quân ta giành thắng lợi hoàn toàn. Trong lúc chúng tôi chưa tổng hợp xong kết quả trận đánh để báo cáo thì đã có tin thủ trưởng Mặt trận B3 điện khen ngợi và quyết định đề nghị trên tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất cho đơn vị tôi vì đã tiêu diệt gọn Tiểu đoàn 207 của quân địch. Sau gần một giờ chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, đơn vị đã tiêu diệt tại chỗ hơn 500 quân địch; thu 481 súng các loại, 2 khẩu cối 106,7mm, 4 khẩu cối 81mm; 18 máy thông tin vô tuyến điện, trong đó có 2 máy 15W và nhiều trang thiết bị của địch…

48 năm đã trôi qua, mỗi lần gặp mặt kỷ niệm Ngày truyền thống Trung đoàn 25, tôi và các đồng đội đều hồi tưởng về một thời trận mạc, về tình đồng chí, đồng đội, tình đoàn kết quân dân đã tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ thù.

TRƯƠNG NHẤT VƯƠNG (Ghi theo lời kể của cựu chiến binh Vũ Khắc Minh)